|
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 140 NĂM NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG (01/5/1886 - 01/5/2026)
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 140 NĂM NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG (01/5/1886 - 01/5/2026)
00:17 - 24/04/2026
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
KỶ NIỆM 140 NĂM NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG
(01/5/1886 - 01/5/2026)
I. LỊCH SỬ, Ý NGHĨA
NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG (01/5) VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG HƯỞNG ỨNG TẠI VIỆT NAM
1. Lịch sử và ý nghĩa
Ngày Quốc tế Lao động (01/5)
Từ nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển mạnh sang giai đoạn phát
triển cao hơn - giai đoạn độc quyền, gắn liền với sự tập trung sản xuất và tư bản
ở quy mô lớn. Cuộc cách mạng công nghiệp tiếp tục thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển nhanh chóng, làm cho nền đại công nghiệp ở các nước tư bản chủ yếu
như Anh, Pháp, Đức, Mỹ... đạt trình độ cao, với sự ra đời của các tổ chức độc
quyền chi phối nhiều ngành kinh tế. Tuy nhiên, cùng với những bước tiến của nền
kinh tế tư bản, giai cấp tư sản tăng cường bóc lột và bần cùng hóa công nhân
lao động; mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc, dẫn đến nhiều cuộc đấu tranh giữa
giai cấp vô sản với giai cấp tư sản diễn ra với quy mô ngày càng lớn.
Trong các phong trào ấy, vấn đề thời gian lao động trở thành yêu sách
trung tâm. Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, C.Mác coi việc rút ngắn
thời gian lao động là một nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần
thứ nhất của Quốc tế I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh
đòi ngày làm việc 08 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng.
Nước Mỹ, từ một quốc gia có nền kinh tế lạc hậu, phụ thuộc vào châu Âu,
đã mở rộng sản xuất, nhanh chóng phát triển trở thành nước công nghiệp hàng đầu
thế giới. Thành phố Chi-ca-gô trở thành trung tâm thương nghiệp của Mỹ. Các guồng
máy chạy hết công suất suốt ngày đêm, hàng vạn công nhân bị bắt buộc làm việc mỗi
ngày từ 14 - 18 giờ; phụ nữ và trẻ em cũng phải lao động nặng nhọc với mức
lương thấp và hầu như không có ngày nghỉ.
Hưởng ứng lời kêu gọi của “Liên đoàn Lao động Mỹ”, ngày 01/5/1886, khoảng
40.000 công nhân tại thành phố Chi-ca-gô tiến hành bãi công, tổ chức mít tinh
và biểu tình với khẩu hiệu: “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ
một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.
Cuộc đấu tranh vì mục tiêu dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội bị đàn áp
đẫm máu, nhưng đã tạo được sự hưởng ứng mạnh mẽ của công nhân khắp nước Mỹ và
nhiều quốc gia trên thế giới. Khẩu hiệu “Ngày làm việc 8 giờ” trở thành tiếng
nói chung của công nhân lao động toàn cầu, buộc chính phủ nhiều nước phải ban
hành luật quy định ngày làm việc 8 giờ.
Ghi nhận những thành quả của phong trào công nhân, tại Đại hội thành lập
Quốc tế thứ II ngày 14/7/1889, các đại biểu đã thông qua nghị quyết lấy ngày
01/5 làm ngày đoàn kết đấu tranh của công nhân toàn thế giới.
Thực hiện nghị quyết này, ngày 01/5/1890 lần đầu tiên Ngày Quốc tế Lao động
được kỷ niệm với quy mô quốc tế. Công nhân tại nhiều nước như Mỹ, Canada, Pháp,
Đức, Áo, Đan Mạch, Bỉ, Thụy Điển, Hà Lan, Ý... tổ chức bãi công, mít tinh, biểu tình với khẩu hiệu “Ngày làm việc 8 giờ”, “Vô
sản tất cả các nước đoàn kết lại”.
Phong trào đấu tranh đòi ngày làm việc 8 giờ lan rộng và có sức sống mạnh
mẽ, trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của người
lao động và sự tiến bộ của xã hội.
2. Ngày Quốc tế Lao động
(01/5) ở Việt Nam
Từ những năm đầu thế kỷ XX, thông qua hoạt động của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc,
chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm của phong trào công nhân quốc tế được truyền
bá vào Việt Nam; cùng với đó, tinh thần của Ngày Quốc tế Lao động (01/5) đã góp
phần nâng cao nhận thức giai cấp, khơi dậy tinh thần đoàn kết và định hướng mục
tiêu đấu tranh vì tiến bộ xã hội trong công nhân Việt Nam.
Ngày 01/5/1925, công nhân Chợ Lớn, công nhân đường sắt Dĩ An và công
nhân Đà Nẵng biểu tình bày tỏ ý chí bảo vệ Liên bang Xô viết. Tháng 8/1925,
công nhân Nhà máy Ba Son (Sài Gòn) bãi công đòi tăng lương và ủng hộ phong trào
đấu tranh của công nhân Thượng Hải (Trung Quốc). Những cuộc đấu tranh đầu tiên ấy
đánh dấu sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, là bước
chuyển quan trọng của phong trào công nhân Việt Nam từ tự phát sang tự giác.
Sự ra đời của Công hội đỏ Bắc Kỳ (28/7/1929) - tổ chức tiền thân của
Công đoàn Việt Nam và sự thành lập của Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) đã
đánh dấu bước phát triển quan trọng của phong trào công nhân Việt Nam. Từ đây,
giai cấp công nhân Việt Nam từng bước hình thành lực lượng có tổ chức, có mục
tiêu đấu tranh rõ ràng và đặt dưới sự lãnh đạo
của chính đảng cách mạng của giai cấp mình.
Phong trào đấu tranh ngày 01/5/1930 mở đầu cao trào cách mạng 1930 -
1931, công nhân cùng với nông dân tổ chức mít tinh, tuần hành, đấu tranh đòi
quyền lợi kinh tế và chính trị, bày tỏ tình đoàn kết với công nhân thế giới.
Tiêu biểu là các cuộc đấu tranh tại Nhà máy xe lửa Tràng Thi, Nhà máy diêm Bến
Thủy và cuộc bãi công của 4.000 công nhân Nhà máy sợi Nam Định.
Trong thời kỳ vận động dân chủ (1936 - 1939), Ngày Quốc tế Lao động được
tổ chức công khai. Cuộc mít tinh ngày 01/5/1938 tại Đấu xảo Hà Nội với hơn
25.000 người tham gia là cuộc biểu dương lực lượng lớn của nhân dân lao động.
Sau khi đất nước giành được độc lập, ngày 18/02/1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký Sắc lệnh số 22c quy định ngày 01/5 là một trong những ngày lễ chính thức
của nước ta; tiếp đó ký Sắc lệnh số 56 quy định công nhân được nghỉ làm việc có
hưởng lương trong ngày Quốc tế Lao động.
Ngày 01/5/1946, lần đầu tiên trong lịch sử nước Việt Nam độc lập, Ngày
Quốc tế Lao động được tổ chức mít tinh trọng thể tại Hà Nội với sự tham dự của
hàng chục vạn nhân dân lao động.
Từ đó đến nay, Ngày Quốc tế Lao động ở Việt Nam luôn được tổ chức trang
trọng và càng có ý nghĩa khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cùng kỷ niệm
Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975. Đây là dịp giai cấp
công nhân và nhân dân lao động cả nước ôn lại truyền thống đấu tranh chống ngoại
xâm, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trong
giai đoạn mới. Ngày Quốc tế Lao động ở Việt Nam tiếp tục được tổ chức gắn với
các hoạt động “Tháng Công nhân”, vừa chăm lo đời sống người lao động, vừa khơi
dậy tinh thần thi đua lao động, sáng tạo, đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
Tinh thần Ngày Quốc tế Lao động 01/5 ở Việt Nam vượt ra khỏi phạm vi bảo vệ quyền
lợi trước mắt, trở thành ý thức trách nhiệm với vận mệnh dân tộc. Từ khát vọng
“ngày làm việc 8 giờ” đến khát vọng độc lập, thống nhất, giai cấp công nhân vừa
đấu tranh cho quyền sống, vừa gánh vác sứ mệnh của đất nước. Vì vậy, ngày Quốc
tế Lao động 01/5 không chỉ là ngày đoàn kết của người lao động, mà còn là biểu
tượng của ý chí thống nhất và trách nhiệm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
II. ĐÓNG GÓP CỦA GIAI
CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ CÁCH MẠNG
1. Phong trào công
nhân trước năm 1930
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, mở đầu bằng cuộc đổ bộ
lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Từ đây, nước ta dần bị đặt dưới ách thống trị
thuộc địa, trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa, khai thác tài nguyên, bóc lột nhân
công rẻ và là vị trí quân sự quan trọng của Pháp tại Đông Nam Á.
Trong quá trình khai thác thuộc địa ấy, giai cấp công nhân Việt Nam từng
bước hình thành và phát triển. Đến năm 1929, số công nhân làm việc trong các
doanh nghiệp tư bản Pháp đã vượt 22 vạn người, gồm 5,3 vạn thợ mỏ, 8,6 vạn công
nhân công - thương nghiệp và 8,1 vạn công nhân đồn điền. Tuy nhiên, do mới ra đời
trong điều kiện bị áp bức nặng nề, các phong trào đấu tranh của công nhân thời
kỳ này phần lớn còn phân tán, mang tính tự
phát, thiếu tổ chức và đường lối lãnh đạo thống nhất.
Thấm nhuần tư tưởng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về tổ chức Công hội, trước
yêu cầu phát triển của phong trào công nhân, ngày 28/7/1929, đồng chí Nguyễn Đức
Cảnh đã triệu tập Đại hội đại biểu công nhân các tỉnh Bắc Kỳ tại số nhà 15 phố
Hàng Nón (Hà Nội), thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ và được cử làm Hội trưởng
lâm thời.
Ngày 03/02/1930, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ
chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra thời kỳ mới của phong
trào công nhân Việt Nam - giai cấp công nhân có tổ chức chính trị tiên phong
lãnh đạo và phong trào công nhân gắn liền với phong trào cách mạng dân tộc.
2. Đóng góp trong những
năm 1930 - 1945
Đầu năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế của các nước tư bản đã ảnh hưởng
trực tiếp đến nước Pháp và các thuộc địa. Chính quyền thực dân trút mọi hậu quả lên
đầu nhân dân Việt Nam, khiến đời sống của giai cấp công nhân vốn đã khó khăn lại
càng thêm khốn đốn.
Trước tình hình đó, Công hội đỏ đã lãnh đạo giai cấp công nhân đấu tranh
mạnh mẽ trong cao trào cách mạng (1930 - 1931), tiêu biểu là phong trào của
công nhân Nhà máy Xe lửa Tràng Thi, Nhà máy cưa và Nhà máy Diêm Bến Thủy vào
ngày 01/5/1930, đưa tinh thần Ngày Quốc tế Lao động từ yêu sách kinh tế trở
thành phong trào đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ và hòa bình.
Phong trào cách mạng dâng cao đã làm bộ máy chính quyền của đế quốc và
phong kiến ở nhiều vùng nông thôn bị tê liệt. Lần đầu tiên trong lịch sử, chính
quyền của người lao động - chính quyền Xô viết Nghệ - Tĩnh được hình thành, để
lại nhiều bài học quý báu về giành và xây dựng chính quyền cách mạng.
Những năm 1932 - 1935, phong trào cách mạng bị thực dân Pháp đàn áp khốc
liệt, nhiều cán bộ Đảng và Công hội đỏ bị bắt giam. Khủng hoảng kinh tế khiến
cho tám vạn người thất nghiệp. Tuy nhiên, nhờ sự nhiệt tình cách mạng của giai
cấp công nhân, phong trào cách mạng trong cả nước bắt đầu hồi phục.
Từ năm 1936 - 1939, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ với hàng
trăm cuộc bãi công đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện lao động.
Tiêu biểu là các cuộc bãi công của công nhân mỏ Hòn Gai, công nhân xe lửa tuyến
Vinh - Dĩ An và cuộc biểu dương lực lượng của hơn 25.000 công nhân lao động Hà
Nội ngày 01/5/1938.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939), chính quyền thực dân
tăng cường đàn áp phong trào cách mạng. Tuy vậy, giai cấp công nhân và các tổ
chức công nhân cứu quốc vẫn tiếp tục hoạt động, phát triển lực lượng và chuẩn bị
cho tổng khởi nghĩa.
Tháng 5/1945, công nhân ở nhiều nơi đã tham gia đấu tranh chính trị kết
hợp đấu tranh vũ trang, chế tạo vũ khí và tham gia khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo
của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, giai cấp công nhân cùng toàn dân
làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
3. Đóng góp trong thời
kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
Sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta vừa xây dựng chính quyền cách mạng,
vừa đối mặt với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Giai cấp công nhân đã tích cực
tham gia bảo vệ cơ sở sản xuất, duy trì hoạt động kinh tế và phục vụ kháng chiến.
Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), công nhân cả
nước tích cực tham gia vận chuyển máy móc, xây dựng các cơ sở sản xuất vũ khí
và đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất phục vụ chiến đấu.
Sau Chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp chuyển sang giai đoạn mới, nhiều phong trào thi đua được phát động,
như: “Tăng gia sản xuất vũ khí”, “Tăng gia sản xuất, tự túc ăn mặc”
“Tích cực chuẩn bị tổng phản công” đã động viên toàn thể công nhân hoàn
thành nhiệm vụ, phục vụ chiến đấu. Kết quả, đến năm 1950, công nhân đã sản xuất
được trên 350 nghìn nông cụ các loại, 200 máy bơm nước, 40 xe đạp nước cung cấp
cho nông nghiệp. Tính đến tháng 11/1950, công nhân lao động vùng tự do đã quyên
góp, ủng hộ cho Nhà nước 1.076.000 đồng; ủng hộ nhân dân vùng bị nạn và bộ đội
16.000 bộ quần áo, 6.000 chiếc ba lô, 1.200 áo trấn thủ... Cùng với việc đẩy mạnh
phong trào thi đua sản xuất, các hoạt động tăng gia cải thiện đời sống, công
tác văn hóa, giáo dục, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân được quan tâm
triển khai tích cực.
Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, giai cấp công nhân cùng với giai cấp
nông dân xây dựng được khối liên minh công nông vững chắc, làm nòng cốt xây dựng
và củng cố chính quyền nhân dân, góp phần tích cực vào chiến thắng Điện Biên Phủ
“lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc vẻ vang 9 năm kháng chiến chống
thực dân Pháp đầy hy sinh, gian khổ và anh dũng của dân tộc Việt Nam.
4. Đóng góp trong những
năm xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chống chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ (1954 - 1975)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam tạm thời bị chia thành hai miền,
miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, miền Nam còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ.
Ở miền Bắc, công nhân trở thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc khôi
phục và phát triển sản xuất. Nhiều phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm
xây dựng chủ nghĩa xã hội với năng suất lao động, hiệu quả công tác, phục vụ và
tham gia chiến đấu, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được
phát động, như “Sóng Duyên Hải”, “Hợp tác xã Thành Công”, “Ba quyết tâm”... đã
lan tỏa sâu rộng, xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến được Đảng và Nhà nước
phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.
Ở miền Nam, phong trào công nhân hoạt động trong điều kiện vô cùng khó
khăn, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm ra sức khủng bố, đàn áp. Các
ngành công nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn, đời sống của công nhân khó
khăn. Trước tình hình đó, Đảng đã chỉ đạo các cơ sở trong nội thành, trong các
đồn điền phải tìm mọi cách bám đất, bám dân phát triển lực lượng, tổ chức cho
công nhân vừa đấu tranh ở đô thị, vừa tập trung sản xuất ở vùng giải phóng phục
vụ chiến đấu. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và Chiến
dịch Hồ Chí Minh lịch sử, công nhân đô thị nổi dậy, phối hợp lực lượng vũ
trang, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975).
5. Đóng góp trong những
năm cả nước thống nhất đi lên Chủ nghĩa xã hội đến nay (1975 đến nay)
Trong giai đoạn 1975 - 1985, Công đoàn Việt Nam được thống nhất (năm
1976) theo Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, mở ra bước phát triển mới cho
phong trào công nhân. Công nhân lao động tích cực tham gia khắc phục hậu quả chiến
tranh, bảo vệ Tổ quốc ở biên giới, đẩy mạnh thi đua lao động sản xuất, phát triển
kinh tế - xã hội, đi đầu thực hiện các chương trình kinh tế lớn của Đảng.
Trong thời kỳ đầu đổi mới, công nhân trong các thành phần kinh tế hăng
hái thi đua lao động sản xuất, tiết kiệm, góp phần thực hiện nhiều công trình
trọng điểm của đất nước, như: thủy điện Hòa Bình, Trị An, mỏ Apatit Lào Cai, dầu
khí Vũng Tàu,... tích cực thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bước vào giai đoạn 1996 - 2006, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Các phong trào thi đua yêu nước
được đẩy mạnh, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội; giai cấp công nhân tiếp tục được xây dựng vững mạnh, góp phần củng cố
khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Từ năm 2007 đến nay, trước yêu cầu của hội nhập quốc tế, chính sách,
pháp luật về lao động ngày càng được xây dựng, hoàn thiện. Các hoạt động chăm
lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân, người lao động ngày càng được đẩy
mạnh, nhất là tại các khu công nghiệp, khu chế xuất; các phong trào thi đua yêu
nước tiếp tục được triển khai sâu rộng, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài
hòa, ổn định, tiến bộ, nâng cao năng suất lao động và phát triển kinh tế - xã hội.
III. VAI TRÒ CỦA GIAI
CẤP CÔNG NHÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo
cách mạng, thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản, là lực lượng đi đầu trong
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quan điểm này được khẳng định trong nhiều
nghị quyết quan trọng, như Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/01/2008 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày
12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt
Nam trong tình hình mới, và các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc gần đây, nhất
là văn kiện Đại hội XIV của Đảng, tiếp tục khẳng định yêu cầu xây dựng giai cấp
công nhân hiện đại, lớn mạnh về cả số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị
vững vàng, giác ngộ giai cấp, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học công nghệ, giai cấp công nhân Việt Nam đã không ngừng phát
triển cả về số lượng và chất lượng; tiếp tục khẳng định là lực lượng xã hội to
lớn, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trên khắp các lĩnh vực, từ công nghiệp, xây dựng,
dịch vụ nông nghiệp công nghệ cao, người lao động đã và đang ngày đêm cống hiến
sức lực, trí tuệ, trực tiếp tạo ra sản phẩm, giá trị gia tăng và đóng góp vào
ngân sách quốc gia. Đặc biệt, trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và
xuất khẩu, đội ngũ công nhân đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam từng bước
tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao vị thế của nền kinh tế
trên trường quốc tế.
Không chỉ dừng lại ở việc tạo ra của cải vật chất, giai cấp công nhân
còn là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học - công
nghệ vào sản xuất. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, nhiều công
nhân đã nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại, làm chủ máy
móc, thiết bị tiên tiến, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản
xuất. Những sáng kiến cải tiến kỹ thuật, những giải pháp hợp lý hóa sản xuất xuất
phát từ thực tiễn lao động không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn
tạo ra những giá trị bền vững cho nền kinh tế.
Bên cạnh những đóng góp về kinh tế, giai cấp công nhân và lực lượng lao
động còn có những đóng góp quan trọng trong xây dựng đời sống xã hội, tham gia
các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện. Tinh thần
tương thân tương ái, sẻ chia trong cộng đồng công nhân đã góp phần lan tỏa những
giá trị tốt đẹp, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhiều công nhân không
chỉ giỏi trong lao động sản xuất mà còn tích cực tham gia xây dựng môi trường
văn hóa lành mạnh tại cơ sở, góp phần hình thành tác phong công nghiệp, lối sống
văn minh, hiện đại.
Bước vào giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, những đóng góp của giai cấp công
nhân càng trở nên rõ nét, toàn diện và có ý nghĩa chiến lược, gắn liền với sự
quan tâm, chăm lo ngày càng thiết thực của Đảng và Nhà nước, như: hệ thống
chính sách pháp luật về giáo dục, đào tạo nghề, đào tạo lại và bồi dưỡng kỹ
năng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được triển khai tích cực; các quy định
về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn vệ
sinh lao động và các điều kiện bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
người lao động ngày càng hoàn thiện, góp phần nâng cao mức sống và bảo đảm an
sinh cho công nhân, người lao động. Những chính sách hỗ trợ người lao động
trong bối cảnh khó khăn, đặc biệt trong giai đoạn dịch bệnh, đã thể hiện rõ
tính nhân văn và sự đồng hành của Nhà nước đối với người lao động. Các chương
trình phát triển nhà ở xã hội cho công nhân, các thiết chế công đoàn, các hoạt
động chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động ngày càng được quan
tâm đầu tư. Vai trò của tổ chức công đoàn trong đại diện, bảo vệ quyền lợi và
chăm lo cho công nhân không ngừng được củng cố và phát huy. Thông qua các phong
trào thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo, công đoàn đã tạo môi trường để
công nhân phát huy sáng kiến, nâng cao tay nghề, đồng thời khẳng định vị thế của
mình trong doanh nghiệp và xã hội.
Có thể nói, những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước hôm nay có sự đóng góp rất quan trọng, thậm chí mang tính quyết định của
giai cấp công nhân và lực lượng lao động. Trong thời gian tới, với nền tảng đã
được xây dựng cùng với sự quan tâm, chăm lo của Đảng và Nhà nước, giai cấp công
nhân và lực lượng lao động Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy truyền thống, nỗ lực
vươn lên, cống hiến và đóng góp ngày càng tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
***
Kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động (01/5) là dịp để ôn lại truyền thống đấu
tranh vẻ vang của giai cấp công nhân và người lao động trên toàn thế giới vì mục
tiêu hòa bình, tiến bộ xã hội và quyền, lợi ích chính đáng của người lao động;
đồng thời, khẳng định vai trò to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam trong tiến
trình cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
BAN TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN TRUNG ƯƠNG - TỔNG LĐLĐ
VIỆT NAM
|